 |
|
thiền viện Pháp Tạng.
|
Theo lời thọ ký của Đức Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn, sau này vào thời Mạt Pháp, Bồ
Tát Di Lạc vì Đại Bi nguyện mà Hạ Sanh xuống thế gian, tận độ chúng
sanh. Ngài sẽ thành Chánh Qủa, là một vị Phật nối tiếp Đức
Phật Thích Ca, chỉnh trang Phật Đạo, giữ gìn Chánh Pháp của Như Lai
Phật trường tồn được 5000 năm.
Chiếu theo Phật Lịch, nay đã hơn 2500 năm, được ghi nhận ba lần Đức Di
Lạc Hạ Lai khai đạo tại Ta Bà thế giới này, được số đông người tu
theo Phật biết tiếng. Ba lần lai trần nữa nhưng Ngài im lặng nên không
mấy ai biết đến. Một lần làm Quốc Sư, một lần làm vua đều ở nước Tàu,
một lần dạy đạo ở Tây Tạng sẽ được trình bày chương sau.
• Phó Đại Sĩ. Có một kiếp Bồ Tát Di Lạc lai trần ở
nước Trung Hoa, Ngài lấy tên Phó Đại Sĩ đến lúc nhập diệt, người thế
gian mới được biết Phó Đại Sĩ là hóa thân của Đức Di Lạc.
• Bố Đại Hòa Thượng. Đến đời nhà Lương cũng ở
nước Tàu, Bồ Tát Di Lạc lai trần lấy tên Bố Đại Hòa Thượng. Thân hình
Ngài khác thường hơn người thế tục, trán thì nhăn, bụng thì lớn và
thân người mập mạp. Đến lúc nhập diệt, Ngài ngồi thiền tọa, không tật
bệnh gì cả. Lúc đó người thế gian mới được biết Bố Đại Hòa Thượng là
Bồ Tát Di Lạc hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.
 |
| Bố Đại Hoà Thượng |
• Long Thọ. Lại một kiếp khác, khi Bồ Tát Di Lạc
lai trần ở Ấn Độ, Ngài lấy tên Long Thọ, đến lúc ra đi người thế gian
mới được biết Ngài Long Thọ chính là hóa thân Đức Di Lạc. Mỗi lần thị
hiện ở cõi ta bà thế giới này, Ngài đều vì bổn nguyện làm những việc
lợi ích cho chúng sinh.
Sau thế chiến thứ hai cho đến bây giờ, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại
Đức, Tăng Ni đều cho rằng thời này chưa đến lúc Đức Di Lạc xuất thế.
Ngài còn ở trên cung trời Đâu Suất, nhiều kiếp nữa mới thị hiện ra đời
để tiếp nối Chánh Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Trái lại trong lúc đó biết bao lời tiên tri của các đạo giáo như Cơ
Đốc Giáo, Phật Giáo, Cao Đài Giáo, Phật Thầy Tây An, Phật Giáo Hòa Hảo
lại có cả nhà Bác Học cùng các bậc Dị Nhân ở miền Nam nước Việt Nam
cùng các kinh sấm cho biết, Đức Di Lạc đã Hạ Lai tại Việt Nam nhưng
còn ẩn.
Họ hoàn toàn tin vững vàng rằng Đức Di Lạc đã ra đời tại Việt Nam.
Thực tại vẫn yên lặng, ngày tháng vẫn trôi, nhưng không ai nghe, không
ai thấy, những hiện tượng kỳ lạ của kinh sấm xuất hiện để diện kiến
Ngài. Dần dần khiến nhiều người bâng khuâng, lo lắng sanh ra nghi ngờ.
Theo Đại Tập Kinh, sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, 2500 năm
sau là thời Mạt Pháp, Đức Di Lạc Hạ Sanh. Nay đã đến 2538 năm Phật
Lịch mà vẫn chưa có Đức Di Lạc ra đời, càng làm cho nhiều bậc học giả
cùng những bậc tín tâm tu Phật hoài nghi hơn nữa.
• Đức Di Lạc chính là Khổng Minh. Gần ngày nhập Bát Đại Niết Bàn, Ngài viếng thăm Đà Lạt và mua một tượng Khổng Minh đem về Nha Trang, Ngài ghi chú dưới tượng câu:
 |
|
Tượng Khổng Minh,
Ngài mua ở Đà Lạt.
|
“Đời là BIỂN KHỔ, không mấy ai tránh được cái khổ của đời.
Còn vũ trụ không bao giờ giúp ta, chỉ có tâm ta mới cứu ta mà thôi.
Kẻ VÔ TÂM là độc ác nhất” –T.V.
Đường đạo Ngài xác định thật rõ ràng:
Bậc tu không thể nương tựa chỉ
biết cầu vái van xin mà phải chính mình tinh tấn sửa đổi tánh tình
cho thật tốt, vạn pháp diễn cảnh phải chịu đựng và tự hóa giải cho
sạch nghiệp. Sau khi chánh giác, bỗng tự phát lòng đại bi thương chúng
sinh như thương thân mạng mình, không thể ngồi yên thấy chúng sinh
đang trầm luân trong biển lửa.
Một hôm Ngài dạy tôi nghe như vầy:
Tôi với ông nhiều kiếp luôn ở bên
nhau, có một kiếp Tôi làm Quốc Sư ở bên Tàu, thấy người dân bị rên
siết trong đau khổ không thể làm ngơ được, Tôi phải đem trí tuệ làm
phương thức cứu đời. Ngày nay tu hành tuy không có binh hùng tướng
mạnh, không có quyền hành, một người lính canh cũng không có, lại
không có một loại vũ khí thô sơ nào ở bên cạnh, nhưng với sự quyết chí
tu hành, Tôi lấy Phật Lực đầy quyền uy gấp vạn lần hơn thời trước cứu
đời rất hữu hiệu.
Rồi Ngài cho vẽ tượng Quan Công treo trong Tịnh Thất của Ngài. Khi vào
phòng, tôi thấy hình Quan Công treo ở tư thế hộ giá, bỗng nhiên tôi
trực giác nhớ tiền kiếp của tôi và của Đức Ngài. Tôi ngạc nhiên khi
biết Ngài là Khổng Minh đời nhà Hán làm Quốc Sư thời Lưu Bị còn được
gọi Lưu Huyền Đức. Lạ thật! rất nhiều ngạc nhiên đối với tôi khi nhìn
được từ quá khứ xa xôi vào khoảng năm 191 Lưu Bị-Quan Công-Trương Phi
sau khi bàn luận, hẹn nhau hôm sau kết nghĩa trong vườn đào phía sau
nhà Trương Phi, bày lễ vật cáo tế Thiên Địa.
Lúc đó Khổng Minh chính là hóa thân của Bồ Tát Di Lạc. Dưới mắt Thiền
Sư, nhìn biết tình nghĩa đã trở nên nhân duyên cao dày, tan hợp, hợp
tan với bao phong ba, nay ở bên nhau trong thời đại nguyên tử của thế
kỷ 20 này! Hai câu thơ của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cũng là
Khổng Minh của thuở trước nhắn nhủ sự luân hồi quay tròn không dừng
của kiếp người, có tình nghĩa vẫn tái hợp!
–Tịnh Vương
Từ ngàn xưa nay là thế kỷ 20, trình độ, sự tiến bộ
của văn minh nhân loại, Ngài Khổng Minh nay lại với cái tên Tịnh
Vương Nhất Tôn cũng chuyển mình theo sự tiến bộ ấy và Ngài đã thành
công trên khoa học và trên cả những chính trị gia thế giới mới là vi
diệu. Ngài thị hiện ở cõi Ta Bà thế giới này, trình độ học vấn chỉ mới
lớp ba, chưa hết bậc tiểu học mà biết bao nhà khoa học gia với bằng
cấp tiến sĩ, bác học đã phát minh bao điều dù cho tối tân cũng không
qua nổi sự chỉ đạo kín nhiệm của Ngài từ xa rất xa. Kinh sách Ngài
nhập Chánh Định Tam Muội ghi chép lại những nhân vật trình độ Đại học
đọc đã phải thán phục và chưa hiểu hết nổi. Thế mới biết cái học không
qua được Chánh Giác.
 |
|
Tranh Quan Công,
bàn thờ Hộ Pháp.
|
Trong thời Đức Tịnh Vương tận độ chúng sinh, có Quan Công ở cấp Thần
thuộc hàng Hộ Pháp vô hình, nguyện ứng trực hộ trì chánh pháp. Quan
Công đã tinh tấn dùng thần lực đi đến những nơi cần trên các nước Cộng
Sản, giải tỏa chùa chiền bị đóng cửa được mở cửa lại cho các bậc tín
tâm vào lễ bái, chiêm ngưỡng Phật và tu hành theo ý nguyện.
Tăng Ni các nước Cộng Sản được tiếp tục ở chùa tu hành cho đến khi
nước nhà đổi mới phải kể đến nguyện độ sinh của Chư Thiên, Chư Thần,
Chư Long Thần Hộ Pháp...và nhất là của Quan Công. Quan Công thường đến
Trung Hoa và Đài Loan giúp giữ gìn dân hai nơi sống trong hòa bình,
nhiều lúc gay cấn chính Quan Công nhận mệnh lệnh của Đức Tịnh Vương hóa
thân Đức Di Lạc, đi hóa giải thật là khó diễn tả ra hết được. Cũng chính
Quan Công đến nhiều lần ở Liên Xô trong những thời gian Liên Xô và
Trung Hoa căng thẳng ở vùng biên giới để ngăn không cho Cộng Sản Liên
Xô xua quân tràn sang nước Cộng Sản Trung Hoa.
Quan Công thật có công lớn cùng với Chư Thiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp,
Chư Long Thần Hộ Pháp... góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới và
hộ trì Chánh Pháp do Đức Tịnh Vương điều động và lãnh đạo. Thật không
thể tưởng nổi ngày xưa là Khổng Minh ngày nay cũng chính là Khổng Minh
trở lại với cái tên Tịnh Vương ẩn dưới bao điều huyền diệu mà giới
khoa học Tây Phương đành chịu! Ngày nay Hộ Pháp Quan Công ở đẳng cấp
Thần, theo Đức Tịnh Vương lập công đức tu hành, nhóm Ngũ Hổ cùng các
cận thần đời Lưu Bị của Hán Triều cũng đều phát tâm tu hành trong Pháp
Tạng Phật Giáo Việt Nam tức trong Long Hoa Hội Thượng.

|
|
Ảnh Ngũ Hổ, Ngài cho treo
tại Trung-Ương-Hội- Thượng số 6 Huỳnh Thúc
|
Các vua, quan thời đại Đinh-Lê-Lý-Trần cũng lai sinh theo tu quanh
Ngài với xác thân mới tên tuổi mới của kiếp này. Không có gì lạ vì
nhân duyên đã gieo từ trước, ta thấy lịch sử ghi chép lại những triều
đại này đều sùng ái đạo Phật, nay họ cầu Tri Kiến Giải Thoát nên gặp
lại. Thời này Lưu Bị cùng những cận thần xưa lai sinh làm người theo
tu hành con đường Giác Ngộ.
Quan Công còn gọi Quan Vân Trường không lai sinh làm người mà vẫn giữ
vị trí cấp Thần vô hình theo hộ trì chánh pháp, ông cũng thường đi Hoa
Kỳ và nhiều nơi của thế giới tự do. Còn Trương Phi ngày xưa nay chính
là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan. Gần ngày nhập Bát Đại Niết
Bàn Đức Tịnh Vương chứng minh cho Quan Công là Hộ Pháp và căn dặn:
“Sau này ông truyền cho các chùa nên thờ Quan Công vì ổng đi giúp mở cửa các chùa cho chúng sinh tu hành!”
Ngày xưa pháp tánh như thế nào thì nay cũng diễn y thời Ngài Khổng
Minh thật khó nghĩ bàn. Nhóm Ngũ Hổ cũng nằm Bộ Trung Ương điều hành
suốt lộ trình hành đạo của Ngài cho chúng sinh được tu hành. Đặc biệt
chân tử Ngài đông và bên cạnh có khá nhiều con cháu Đề Bà Đạt Đa cũng
tu nhưng lòng dạ đầy trắc ẩn, đầy tỵ hiềm, luôn tìm cách quấy nhiễu.
Đức Tịnh Vương còn cho ghi bốn câu thơ thể hiện chữ hiếu của Quan Công:
“Bất hiếu tử nạn tai khiên
Khổ hình sài giải bệnh tương truyền.
Oan hình lao ngục oai xiên phối (đem ngục hình tới)
Thủy hỏa chi tai mạt khải liên.” (liên tục chuyện dữ mang tới)
–Quan Công
Về phương diện thần bí, dưới mắt Thiền Sư giải đáp thì khoa học, không
chấp nhận vì họ đòi hỏi phải có hiện vật thí nghiệm cụ thể chứng minh
nhưng dù cho có cụ thể chứng minh để giải đáp mà họ chưa có cặp mắt
Thiền Định, chưa có trình độ Thiền Sư khó mà nhận được để chấp nhận.
Ví như khi Đức Tịnh Vương Chánh Giác Ngài nhớ tiền kiếp quá khứ, rất
nhiều kiếp cả trăm ngàn năm về trước nay thấy đủ chuyện tương lai của
nhân loại trên quả địa cầu này cùng của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới,
giờ này có nói ra càng thêm cải vả. Vài năm mới đây chuyện bảy hành
tinh cùng hiện một lúc mà báo chí đã đăng tin, thế giới đâu có biêt
chính Đức Di Lạc đã thực hiện, dù có biết cũng không thỏa mãn cho họ
được. Chỉ trừ họ quay về Việt Nam nguyên cứu, theo học Đông Phương,
khám phá ngay chính thân mạng họ, may ra mới thỏa mản được mà giao cảm
đồng thể với vũ trụ, với Thượng Đế như trong Hịch chứng minh, Ngài
quả quyết có thế giới vô hình hằng hà sa số trong Tam Thiên Đại Thiên
Thế Giơi trong khi đó khoa học tìm có vô số hành tinh nhưng lại không
tìm ra được sự sống của các sinh vật mà chỉ mắt Thiền Sư mới thấy.
Vì sao? Vì Thiền Sư luôn hướng thượng nhờ ý thức thi hành trong cuộc
sống điều ngự tánh tình, kết quả trở thành Siêu Nhân, Thánh Triết, nhận
thấy cái gì cũng chân thật, ngoài ra còn cá tánh lấy cái học để
nghiên cứu khó mà thấy đặng.
• Vua Lý Thế Dâng. Đời nhà Đường ở Trung Hoa Vua
Lý Thế Dâng chính là Bồ Tát Di Lạc trong lúc đó hóa thân Tôn Giả Mục
Kiền Liên chính là Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh từ Trung Hoa đến Ấn
Độ. Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di lạc khai thị tôi nghe như vầy:

|
| ◊ Vua Lý Thế Dâng |
“Bồ Tát được đích Bất thối tuyệt đỉnh, bậc này
an nhiên không còn ái nhiễm, bước ra đi dạo khắp các cảnh giới. Lễ
bái Đức A Di Đà Phật, một là an trú tịnh độ hai là phát Đại nguyện lai
trần.
Nếu lai trần xuống đặng làm Vua minh chánh, làm lãnh tụ cứu nước, cứu
an dân lành, giải khổ ách nô lệ. Bậc này dù tái sanh nơi nào trong lục
đạo cũng đặng làm thủ lãnh cứu nguy, chớ không bao giờ làm thường
dân cả. Vì sao phải làm vua hoặc làm lãnh tụ? Vì có làm vua hay làm
lãnh tụ sau này mới có trang nghiêm quốc độ thành Phật, trước tiên làm
chủ giúp dân, sau làm chủ vũ trụ, đó chính là lẽ đương nhiên nó phải
như thế.” –T.V.
Ngài còn dạy:
Làm vua để đào tạo tài có Tài mới có Trí. Đức do tu tập
nhiều kiếp đã có sẵn. Nay có trí được Đức trí tương song. Bậc tu thực
hiện được Siêu Thiện mới có đức lớn như biển cả. Trí Vô Thượng Đẳng là
trí không ai địch nổi. Đức trí siêu việt như vậy là Phật. Cho nên bậc
này không hiền mà cũng chẳng dữ. Không thiện mà cũng chẳng ác. Chỉ
thực hiện đúng pháp vô sanh trở thành bất tử, nó phải như vậy.
Bậc Thánh Hiền chỉ đi có một mặt phải, còn mặt trái của đời không đủ
tài nên dể bị chết mà không oán, lại đem tình thương ban cho họ nữa.
Pháp này không có Chánh Giác cũng không có Vô Thượng Đẳng Trí, chỉ có
trí Thánh Hiền đến giác ngộ là cùng. Bậc giác ngộ rốt ráo tức Chánh
Giác, bậc này phải chờ diện kiến Đức Đại Lực Di Lạc thành Phật thử
thách, kiểm tra rồi chứng minh mới được nhập thể.
Như Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã từng chứng minh Ngài Quán Thế
Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lạc Bồ Tát... Thời hạ kiếp này
cũng vậy, Đức Di Lạc đã khai mở Long Hoa 37 năm mà những vị tự xưng
Chánh Giác không vào diện kiến để chứng minh, dù có xưng Phật cũng
không phải Phật thật vì chưa đủ công năng công đức mà xưng bị kẹt ở
Phật Giới thật tai hại vô lượng kiếp. Bởi vậy bậc tín tâm biết rằng,
mỗi khi Đức Di Lạc lai trần đều có tất cả các vị Tổ thời Đức Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật theo tu học ở quanh Ngài.

|
|
◊ Vua Thế Dâng và
Ngài Huyền Trang.
|
Như đời nhà Đường ở bên Tàu, vua Lý Thế Dâng ra đời chính là Bồ Tát Di
Lạc thì có Tôn giả Mục Kiền Liên hóa thân là Trần Huyền Trang đi
thỉnh kinh. Một điểm đặc biệt mà bậc tín tâm cần lưu tâm là trước khi
viên tịch, chân tử của Pháp sư Huyền Trang tên là Phổ Quang và những
người khác có hỏi
“Thầy có chắc được tái sinh lên cõi Trời Đâu Suất
không?
– Pháp sư trả lời: “Chắc chắn như vậy” Rồi Pháp sư nói “Nhục thân độc
địa này của Huyền Trang thật đáng nhàm chán. Nay công việc đã xong,
tôi quả không nên lưu lại ở đây nữa. Tôi xin hồi hướng tất cả công đức
và tri thức của tôi cho tất cả chúng sinh, cầu mong tất cả chúng ta
sẽ được sinh lên cõi trời Đâu Suất theo học Bồ Tát Di Lạc và phụng sự
Ngài. Khi Đức Phật lại xuống trần, chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng
với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đạt được mục đích
Tối Thượng”
Sau khi nói lời từ biệt ấy, Pháp Sư lại Thiền định. Đoạn Ngài đọc lên
một bài kệ tán Phật Di Lạc và lập nguyện được tái sinh lên cõi Trời
Đâu Suất. Nói xong hơi thở Ngài yếu dần và Ngài tịch một cách bình an.
Da Ngài vẫn hồng hào và sắc mặt Ngài hoan hỷ. Trong bảy ngày nét mặt
của Ngài vẫn không đổi và nhục thân không thoát ra mùi gì khó chịu.
Lúc bây giờ là năm 664 tức là thế kỷ thứ bảy.
Lời thệ nguyện này, nay là thế kỷ thứ 20, đã được trả lời hùng hồn
nhất, chân thật nhất được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc
đã chứng minh. Thế mới xác minh sanh tử luân hồi là có thật. Đức Di
Lạc Hạ Lai kỳ này ở vào hậu bán thế kỷ thứ 20. Ngài hiện cư sỉ. Trần
Huyền Trang cũng hiện cư sĩ. Chư Tổ thời Đức Phật Thích Ca cũng hiện
diện đầy đủ với hạnh cư sĩ tại gia. Tất cả đều có gia đình, vợ, con
làm tất cả các ngành nghề trong xã hội miền nam Việt Nam.
Nay đã hội tề đông đủ, theo tu học Đức Di Lạc. Trong đó Trần Huyền
Trang với hóa thân mới, tên mới của kiếp này đã được Đức Tịnh Vương
hóa thân Đức Di Lạc chọn đứng đầu Bộ Trung Ương, tiến hành Phật sự
suốt lộ trình hành đạo của Ngài ở thế giới này. Ông cũng chịu muôn vàn
gian nan, khắc nghiệt của thời mạt kiếp còn hơn thời đi thỉnh kinh
nữa. Có rất nhiều chân tử Ngài Tịnh Vương đồng tu với Huyền Trang đã
tìm đủ cách xô, lật, đập đổ... đủ hình thức nhưng họ không đủ trí bát
nhả nên đã nhiều đợt bị thất bại.
Thật hy hữu thay lời nguyện xưa ở thế kỷ thứ bảy đã được thể hiện đúng
vẹn vừa ở thế kỷ 20 này, thế kỷ nguyên tử mà Đức Di Lạc đã hiện thân.
Ngày nay đã được giải có đáp số đúng.
Một lần nữa:
“Khi Đức Di Lạc xuống trần chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng
với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đã đạt được mục
đích Tối Thượng” đã được thực hiện và đã đạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác,
duy nhất được Đức Di Lạc ban hành Hịch vào hàng Bồ Tát Ma Ha Tát
trong Đại lễ 30 tháng 9 năm 1989.
Thế mới biết bậc tu hành thành thật tâm và thiết tha tâm đều được Chư
Phật mười phương gia hộ chứng minh không có sai chạy. Giả sử nếu thời
pháp sư Huyền Trang không được sanh về cõi Trời Đâu Suất như đã hạnh
nguyện, sao ta thấy kỳ hạ lai này Đức Di Lạc hiện cư sĩ ở tại gia,
Huyền Trang cũng hiện cư sĩ tại gia và gặp nhau kiếp cuối thành Phật
của Đức Di Lạc. Huyền Trang cũng đã phụng sự đúng nguyện và đã thành
công. Kiếp nào Chư Tổ cũng xuất gia nhưng khi Đức Di Lạc sống tại gia
là tất cả cũng tại gia. Do đó chúng ta phải biết rằng đã có sắp xếp
của Ngài trước khi lai trần và đã hội tề với nhau trước là chuyện chắc
chắn.
Vào hậu bán thế kỷ thứ 11, Tôn giả Mục Kiền Liên lai sinh ở Tây Tạng
là một La Ma Milarepa có lịch sử ghi chép cuốn Milarepa con người
siêu việt. Lúc đó Đức Di Lạc là Thầy dạy đạo cho Milarepa. Bao nhiêu
kiếp hạnh nguyện năng động thuộc phẩm Bất Khả Tư Nghì, chờ đến thời Hạ
Lai này mới được chứng minh là cả một chuổi dài qua nhiều kiếp tinh
tấn không ngừng, không mệt mỏi, cùng sự chịu đựng vạn pháp diễn hành
có lắm lúc kiệt sức. Nhiều bậc chạy dài trong thời mạt pháp này, không
chịu đựng nổi phải quay lại vào chùa, vào cốc, trốn không gặp vạn
pháp diễn hành ở thế gian!
Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị:
Chân tử của Ngài
hàng hàng lớp lớp hiện nay, người nào thấp nhất cũng làm quan ở triều
đình còn thì Đại Thần của Ngài thời Khổng Minh và thời vua Lý Thế Dâng
đời Đường nay đều phát tâm tu hành. Thế mới xác nhận được nhân duyên
đã cao dày nay mới tái hợp được./-
ế